QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG TRA TẤN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

I. CÁC NGUYÊN TẮC TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 NHẰM NỘI LUẬT HÓA NỘI DUNG CÔNG ƯỚC VỀ CHỐNG TRA TẤN
content:

I. CÁC NGUYÊN TẮC TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 NHẰM NỘI LUẬT HÓA NỘI DUNG CÔNG ƯỚC VỀ CHỐNG TRA TẤN        

Nhằm nội luật hóa nội dung về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người trong Công ước về chống tra tấn, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8)

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9).

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10).

- Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11).

- Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13).  

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16).

1. Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong Bộ luật tố tụng hình sự

Theo Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân thì khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết. Nguyên tắc này phù hợp với Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14).

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân còn tạo điều kiện để công dân sử dụng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, trước hết là quyền bào chữa, quyền trình bày lời khai, chứng cứ mà không bị sức ép hay sự đe dọa nào; quyền khiếu nại, tố cáo các việc làm sai trái, xâm phạm quyền của họ hay của người khác trong quá trình tố tụng, quyền được Tòa án xét xử kịp thời.

2. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật trong Bộ luật tố tụng hình sự

Bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản, được thể chế hóa trong nhiều văn kiện quốc gia. Nguyên tắc này bảo đảm tất cả mọi người đều có vị thế ngang nhau trước pháp luật và có quyền không bị phân biệt đối xử được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Bình đẳng trước pháp luật là yêu cầu tất yếu vì con người sinh ra có thể khác nhau về dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo và địa vị xã hội, nhưng đó không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong việc hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là một trong các nguyên tắc quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.

Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật như sau: Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Nguyên tắc này đã cụ thể hóa Điều 16 Hiến pháp năm 2013: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nguyên tắc này khẳng định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và ngang nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý mà không có bất kì sự phân biệt nào về địa vị, giới tính, tôn giáo, dân tộc.

Ví dụ: Do thiếu tiền tiêu xài, A đã đập phá nhà cửa và khống chế bà B để cướp tài sản. A bị công an bắt tạm giữ để xử lý theo quy định nhưng A cho rằng vì bố của A là liệt sĩ, người có công với cách mạng, gia đình A là gia đình có truyền thống yêu nước nên nếu có phạm tội thì A cũng sẽ không bị xử lý theo pháp luật. Trong trường hợp này, việc gia đình A có truyền thống yêu nước, bố của A là liệt sĩ thì chỉ là tình tiết để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với A. Trong trường hợp A phạm tội thì vẫn bị xử lý theo quy định pháp luật.

3. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Tự do thân thể và từ đó, sự bất khả xâm phạm về thân thể là giá trị cao nhất của mỗi con người, là một trong những quyền hiến định đầu tiên của con người. Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể như sau:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Nguyên tắc này kế thừa Điều 20 của Hiến pháp năm 2003. Tất cả mọi cá nhân đều được đảm bảo quyền lợi về bất khả xâm phạm đến thân thể của mình, không có bất cứ ai có quyền được xâm hại các quyền lợi đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác dưới mọi hình thức, quyền tự do cá nhân của công dân cũng được đảm bảo thể hiện ở chỗ không ai có quyền bắt giữ nếu không thuộc trường hợp pháp luật cho phép như có quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trừ trường hợp cá nhân đó vi phạm pháp luật bị bắt quả tang. Mọi cá nhân có quyền thực hiện việc hiến mô và bộ phận trên cơ thể người và hiến xác nhằm mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện thử nghiệm y học hoặc bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác đối với cơ thể con người thì bắt buộc phải được sự đồng ý của người được thử nghiệm. 

Theo Bộ luật tố tụng hình sự, người bị bắt, bị tam giữ, bị can, bị cáo, cho dù hành vi của họ có dấu hiệu tội phạm nhưng quyền bất khả xâm phạm về thân thể của họ vẫn phải được tôn trọng và được bảo đảm bởi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án. Quy định “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể” là quy định chung nhất, nhấn mạnh nội dung này đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khi tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án. Mọi hành vi và quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không đúng đối tượng, căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (từ Điều 109 đến Điều 125) đều bị coi là vi phạm pháp luật.

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang”.

4. Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong số những quyền nhân thân cơ bản của con người. 

Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân như sau:

Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.

Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân như sau:

Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.

Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Nguyên tắc này có cơ sở hiến định tại Điều 19, 20, 32, 51 của Hiến pháp năm 2013:

“Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19)

“Mọi người…được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.” (Điều 20);

”Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” (Khoản 2 ĐIều 32);

“Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa” ( khoản 2,3 Điều 51).

Như vậy, mọi người (bao gồm công dân, người nước ngoài ở Việt Nam, người không quốc tịch) đều có quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản. Trong quá trình tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không được xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia tố tụng như đánh đập, xúc phạm, hành hạ…Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia tố tụng tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Khi người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác hoặc người thân thích của họ bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ họ. Ví dụ: khi người làm chứng báo với Cơ quan điều tra có thẩm quyền là họ có nguy cơ bị người trong gia đình của bị cáo trả thù vì đã có lời khai bất lợi cho bị cáo, Cơ quan điều tra có trách nhiệm áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ người làm chứng và người thân của họ (nếu thấy thực sự cần thiết).

5. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự

Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau:

- Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

- Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Suy đoán vô tội là nguyên tắc hiến định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Có thể hiểu nguyên tắc này là không ai có thể bị coi là có tội khi chưa được chứng minh hành vi của họ theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Hơn nữa, mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ. Khi có những nghi ngờ về pháp luật (về lỗi của bị can, bị cáo) và chứng cứ xuất hiện nếu không chứng minh làm rõ được thì những nghi ngờ này được hiểu và giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

6. Quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong Bộ luật tố tụng hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan, vì lời khai của họ chính là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án, nhiều vụ án nhanh chóng được điều tra làm rõ chính là nhờ nguồn chứng cứ này. Chính vì vậy, họ là những người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) dành 01 chương - Chương XXXIV về việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Theo đó, người làm chứng, bị hại có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa (điểm l khoản 2 Điều 62, điểm b khoản 3 Điều 66). Ngoài ra, bên cạnh người làm chứng, người bị hại, người tố giác tội phạm thì người thân thích của họ cũng được quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, được quyền bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong khi tham gia quá trình tố tụng hình sự (Điều 484).

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan. Lời khai của họ chính là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án. Chính vì vậy, họ là những người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng.

Hiện nay, một số nhóm tội danh xâm hại về tính mạng, sức khỏe, về ma túy, tham nhũng, những đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất tinh vi, manh động, sẵn sàng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tố giác tội phạm, người bị hại, người làm chứng khi họ cung cấp thông tin cho cơ quan tố tụng, điều này dẫn tới quy định về bảo vệ các đối tượng trên là hợp lý.

II. QUY ĐỊNH VỀ CHỨNG CỨ

Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định chứng cứ trong vụ án hình sự là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác.  Đồng thời, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án (khoản 3 Điều 88).

Trong tất cả các giai đoạn tố tụng, mọi chứng cứ đều phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực. Do đó, nếu thông tin, tài liệu được thu thập không đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì sẽ không có giá trị chứng minh trong quá trình tố tụng. Những người tiến hành tố tụng phải xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm. Như vậy, có thể thấy khi truy cứu trách nhiệm hình sự bất kỳ tội phạm nào thì việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các giai đoạn tố tụng đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không có sự phân biệt về tính chất, mức độ của nghiêm trọng của tội phạm hay người phạm tội. Nếu việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ không đáp ứng được các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự sẽ không được sử dụng trong bất kì giai đoạn tố tụng nào.

III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CŨNG NHƯ PHÒNG, CHỐNG TRA TẤN

- Quy định ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hỏi cung bị can (Điều 183) và có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 146);

- Quy định về lấy lời khai (các điều 187, 188, 442), đối chất (Điều 189), xét xử (Điều 258); quy định về quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (các điều 58, 59, 60, 61, 435);

- Quy định người bào chữa có quyền tham gia từ thời điểm người bị bắt, có mặt trong các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, đề nghị tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định (các điều 73, 80).

Các quy định này nhằm hạn chế, ngăn ngừa tình trạng tiêu cực trong quá trình tố tụng hình sự, đặc biệt là tra tấn, bạo lực, ghi âm, ghi hình được thực hiện nhằm tăng cường tính khách quan, minh bạch cho mọi hoạt động của người có thẩm quyền.

                                                                      Hội đồng phối hợp PBGDPL thành phố Vinh